Monday, July 7, 2014

“Hi chị, do you remember me?”

“Hi chị, do you remember me?”
Dòng chữ ngắn ngủi này vừa là subject của một email address tôi không nhận ra là của ai, vừa là dòng đầu của email đến rất bất ngờ.
Dĩ nhiên là không nhớ rồi! No, sorry, but I don’t remember…
“My name is Henry (Hien) I met you in Indiantown Gap, or at least I think and hope it is you. You went to court at Philadelphia with a social worker from American Red Cross to help translate at my adoption hearing. Remember?”
Indiantown Gap? Adoption? Hiên? Ồ nhớ rồi!
Hiên, cậu bé 8 tuổi lạc đến Indiantown Gap bơ vơ một mình, gặp tôi, lúc ấy cũng bơ vơ không kém. Những ngày mới đặt chân đến nước Mỹ, lang thang trong trại tị nạn, làm sao mà quên được.
Tim chợt đập hỗn lọan trong lồng ngực…
“Anyway, how are you? I am now married and have 3 children, my oldest son is 8, about the same age when I met you. I often told him about a sister that used to help me back in 1975 in the refugee camp.”
“If it is you, chi Ha, please write back. I want to at least tell you that I am doing OK, and want to tell you how I was able to locate you.”
Hiên, cậu bé 8 tuổi, nước mắt dàn dụa, bé nhỏ trước tòa trong buổi gặp mặt trước tòa nhận con nuôi. Bà social worker cũng nước mắt doanh tròng, còn “cô thông dịch viên” nhỏ xíu, amateur và bất đắc dĩ thì thôi khỏi nói…
Đã hơn 36 năm. Có những khỏang đời tự nhủ với lòng là khi nào rảnh rỗi, bình tâm sẽ viết lại, hay cũng đã viết xuống rồi, nhưng để lộn xộn ở đâu đó, rồi …quên.
Cách đây 36 năm, tại văn phòng, căn lều thì đúng hơn, của Child Welfare Bureau thuộc American Red Cross, Hiên là một trong hàng trăm đứa trẻ tuổi từ 3 đến 14 lạc cha mẹ ở trại Indiantown Gap, Pennsylvania.
Buổi sáng tôi lạc bứơc vào căn lều của họ, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt là những người social workers của Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ và các bà sơ lúng túng tìm cách chuyện trò với những đứa trẻ hốt hỏang, thất thần… Các nữ tu và cán sự xã hội thì ân cần muốn gần gũi, còn các em đa số co rút, cúi mặt hay quay đi, khước từ những ánh mắt thân thiện nhưng xa lạ, và không biết làm sao để tìm những khuôn mặt thân yêu trong đời bỗng dưng biến mất.

Một người phụ nữ tóc hung khoảng 30 tuổi đi từ những dẫy bàn làm việc đến nhìn tôi  tươi cười: "So you want to be a volunteer?"

Tôi nhìn khuôn mặt hiền từ của bà, mỉm cười và gật đầu, vừa chào, vừa xác định.

Đưa tay ra bắt tay tôi, bà nói:

"My name is Maryann Pinsky, I am a social worker here at the American Red Cross. Thank you so much for coming to help. The children will be happy to speak with someone in their language. We hope to find suitable adoptive parents for all of them before long."

Với vốn liếng tiếng Anh lúc ấy, tôi nghĩ rằng mình chỉ hiểu được tối đa là 70% những điều bà nói, còn lại thì là đoán, nhưng theo lời giải thích của bà thì như thế cũng đủ, vì công việc chính của tôi là hỏi han các em rồi ghi lại chi tiết vào thành một hồ sơ cho mỗi người.

Bà  Maryann Pinsky (mãi sau này tôi mới biết cách đánh vần tên bà) đưa tôi đến phòng đang tiếp các em sau khi tôi đã điền xong một tờ đơn xin làm tình nguyện viên.  Nói là phòng cho oai, thật ra nó chỉ là căn lều nối dài với căn lều được dùng làm trụ sở của Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ, nơi người ta gom các em đi lạc đến trại tị nạn này, để thiết lập hồ sơ và tìm cha mẹ nuôi.  Không có bàn ghế gì ở đây cả, mọi người đều ngồi bệt xuống đất đã được trải lên một chiếc bạt nhà binh không lồ. Cầm môt note book khổ 8.5  X 11 và cây bút vừa được đưa cho trên tay, tôi tìm một chỗ trống để ngồi xuống.

Một cậu bé gầy gầy ngồi ôm khư khư một túi tay nải nhỏ mầu xám hơi nhích người ra như muốn nhường chỗ  làm tôi chú ý. Đôi mắt em sáng trên khuôn mặt đen dòn của dân miền biển. Chắc Nha Trang, tôi nghĩ. Tôi nhìn cậu bé cười, nhưng cậu chỉ đáp trả bằng đôi mắt ngơ ngác và đôi môi mím chặt thêm lên.

Quanh tôi còn nhiều các em nhỏ khác đủ lứa tuổi, em nào trông cũng lôi thôi lếch thếch với cặp mắt buồn rầu và khuôn mặt câm nín, một vài bé đang thút thít bỗng òa lên khóc khi có người đến gần hỏi han.

Khi đối diện với những nỗi buồn quá lớn, người ta đâm ra nhút nhát. Phải ngồi một lúc lâu tôi mới lại dám mon men làm quen với cậu bé nhường chỗ cho mình lúc nãy:

"Chị tên Hà, em tên gì, em đến đây với ai?"

Cậu bé nhìn tôi nhưng không nói, rồi nhìn xuống ôm tay nải chặt hơn vào lòng. Ở trong đó em có những gì? Tay nải của em chắc cũng giống chiếc áo gối mà mẹ tôi đã chuẩn bị cho tôi và đứa em trai trước khi đi. Chỉ vài bộ quần áo, một hai cuốn sách, giấy tờ tùy thân và một chút tiền đi đường, mà nếu chưa dùng hết, ở đây vô giá trị.

Mãi nghĩ ngợi, tôi chợt giật mình khi nghe thấy tiếng khóc bên cạnh. Quay sang, thấy một bé gái khoảng 5,6 tuổi đang mếu máo, tôi hỏi có đói không, bé không trả lời, mà chỉ kêu to lên: "mẹ ơi, mẹ ơi..." Tiếng kêu của em khiến mấy bé khác xung quanh mủi lòng khóc theo. Những tiếng nấc của những em cố ngăn tiếng khóc nghe còn não lòng hơn.

Để nén một cái gì đang dâng lên làm nghẹn cổ, tôi cố gắng tập trung vào trách nhiệm trước mặt, nhưng công việc đơn giản của chúng tôi xem ra không dễ chút nào...

Tâm trạng kinh hoàng của các em tôi hiểu.  Đùng một cái chúng tôi cùng như bị một cơn lốc bất thần bứt tung ra khỏi thế giới quen thụôc, và ném vào một khung cảnh lạ, cha mẹ, anh em, người thân không thấy đâu, tất cả từ tiếng nói, quang cảnh, đến những khuôn mặt muốn đến săn sóc xung quanh đều từ một thế giới khác. Tôi hiểu, vì hoàn cảnh tôi cũng chẳng hơn gì các em. Cũng những nỗi sợ hoang mang hàng đêm kéo đến hoặc bằng những phút thao thức, hay những cơn ác mộng khiến tôi phải thét lên, rồi tỉnh dậy toát mồ hôi.

Sau bữa cơm trưa, tôi không ngồi với các em nữa mà vào văn phòng phụ bà Maryann xem lại danh sách các em và kiểm lại những hồ sơ đã được thiết lập. An t. Lê, 4 tuổi, đi một mình, Long Thành, Chiến V. Nguyễn, 6 tuổi, đi với anh trai, Vũng Tàu, Xuân t. Phan, 9 tuổi, lạc cha mẹ, Chợ Lớn...

Sáng hôm sau tôi lại trở vào căn lều tập trung. Cậu bé nhường chỗ cho tôi hôm qua vẫn ngồi chỗ cũ, ngước mắt nhìn khi thấy tôi bước qua. Cặp mắt sáng của em dường như hôm nay hơi sưng một chút, chắc tối hôm qua em khóc nhiều. Bước đến chỗ em ngồi tôi mỉm cười chào. Đôi mắt không cảm giác của em không cho thấy em có vui tí nào khi nhận ra tôi không, nhưng dường như khuôn mặt em bớt chút khép kín.

Đến gần trưa, một bà sơ đưa hai bé gái suýt soát tuổi nhau, khoảng 6, 7 tuổi, vào lều. Các em mới được chuyển về đây, bà giải thích. Hai khuôn mặt khá giống nhau, và hai đôi mắt cùng sưng đỏ, chắc là chị em, tôi đoán. Bà sơ đến gần tôi nhờ tôi thông dịch hộ là người ta sẽ đưa qua phòng tắm rửa và khám sức khỏe. Khi hai em nhất định bám cứng lấy nhau, không chịu đi và cùng gào lên khóc, kêu cứu "má đâu rồi, má ơi!' thì tôi không còn nén được nước mắt...

Khi họ mang các em đi rồi, bỏ bữa cơm trưa, tôi ngồi một mình trong góc, lại nghĩ đến gia đình, cha mẹ và các em, giờ này ở Sài Gòn là mấy giờ, mọi người đang làm gì? Tại sao tôi lại ở đây, gia đình tôi có ai bị khó khăn gì không? Giờ này mới thấm thía những chữ 'nghìn trùng xa cách.' Những câu hỏi không ai trả lời được, và nỗi buồn cũng không biết nói với ai,  khiến tôi rơi nước mắt từ lúc nào.

'Chị cũng nhớ má hả ?"

Một tiếng hỏi nhỏ làm tôi ngẩng lên. Cậu bé nhỏ với chiếc tay nải màu xám đã đến gần chăm chú nhìn tôi lúc nào mà tôi không biết.

Tôi nhìn cậu bé gật đầu không nói.

Những giọt nước mắt vô tình đó không ngờ lại giúp tôi và Hiên, tên cậu bé, dần dà đến gần nhau hơn, và chẳng bao lâu hồ sơ của Hiên đã xong.

Biến cố nhỏ nhoi ấy dạy cho tôi, và tôi nghĩ rằng cả cho Hiên nữa sau này, nhiều bài học. Một là khi người ta quan tâm đến nỗi buồn của người khác thì tự nhiên quên bớt nỗi buồn của mình, và hai, con người chia xẻ nhiều được với nhau bằng ánh mắt cảm thông hơn là bằng lời nói.

Đó cũng là bài học vỡ lòng muộn màng của tôi về công việc thiện nguyện, khi đã quá tuổi mười chín.

Hà Giang
November 22th, 2011

0 comments:

Post a Comment