This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Monday, July 28, 2014

Mai mốt về quê hương có Phở



LTS: Đã có biết bao người viết về tô phở quê hương, nhưng đây có lẽ là một trong bài thơ phở cảm động và đậm đà tình quê nhất.

---------------------------------
Ôi mai mốt về quê hương có Phở
cởi mở tâm tình ngò ngát hành hoa
đời hạnh phúc chan hòa thêm nước tiết
ta mời nhau một bát làm quà

gánh giang sơn gồng bằng đôi gánh Phở
quẩy lên đường nghi ngút ấm tình thân
đường Nam Bắc vượt bằng tô xe lửa
dù bà con xa cũng hóa thành gần

mình hãy quên đi những ngày khốn khó
trại lao tù bụng lép đến nôn nao
ở ngoài chợ tháng lương tròn ký thịt
gìa hom còm trẻ đói đến xanh xao

hãy xóa hết những tháng ngày bỏ xứ
ừ đấy thiên đường thừa nạm vè gân
sao vẫn thiếu trong chập chờn thức ngủ
một vị gì ngan ngát của quê thân

nước dùng đậm vì muối nồng biển mẹ
nước dùng trong vì ngọt nước sông cha
bánh sợi dẻo vì gạo đồng lúa Việt
bò thanh hơn vì bò cỏ quê nhà

ôi mai mốt về quê hương có phở
cởi mở tâm tình ngò ngát hành hoa
ớt tiêu cay cay tràn đôi lệ nóng
mừng anh em vui núi thuận sông hòa
Vũ Kiện

Hạnh phúc không là tùy theo cái nhìn...





Chỉ có bánh mì thịt nguội chiều nay, tôi không phiền cho rằng nàng lười nấu nướng, mà phải vui vì nàng không ra đường cặp kè với ai khác. Cảm ơn Trời, tôi vẫn còn có một người vợ tốt… 
Chồng tôi cứ ngồi salon coi TV, tôi không buồn vì chàng vẫn ở nhà với tôi, thay vì ra bar nhậu nhẹt tốn tiền rồi đánh lộn, say rượu lái xe… Cảm ơn Trời tôi vẫn còn người chồng tốt, vẫn hơn chị bạn tôi đang sống thui thủi một mình

Con gái tôi cằn nhằn vì bị bắt rửa chén.  Tui không phiền vì nó vẫn còn là đứa con ngoan không ra đường lêu lỏng.
Tôi bị đóng thuế nhiều, nhưng không phiền vì điều đó chứng tỏ là tôi còn việc làm khi kẻ khác phải thất nghiệp.

Sau buổi tiệc tại nhà khi các bạn đã ra về tôi phải cực nhọc lau chùi, nhưng vui vì tôi có được một vòng rào bạn hữu.

Quần áo lúc này hơi chật, nhưng tôi không than phiền vì điều đó có nghĩa là tôi được no nê sung túc.
Sân cỏ cần được cắt, cửa sổ cần được lau chùi và bao nhiêu công việc nhà đang chờ đợi nhưng tôi không phiền lòng than thở vì tôi vẫn còn được một mái nhà cho gia đình mình.

Bãi đậu xe chật ních, tôi chỉ tìm được một chỗ đậu xa lắc xa lơ, nhưng vui vì mình còn có một cái xe để di chuyển và còn mạnh khỏe để đi bộ.

Tiền điện mùa đông này cao quá, nhưng tôi không than thở vì tôi vẫn còn được sưởi ấm, so với những người phải sống trong giá lạnh.
Ở trong nhà thờ, cái bà đứng sau tôi hát sai điệu nhạc hết trơn nhưng tôi không lấy làm phiền vì thính giác của mình vẫn còn tốt trong khi kẻ khác không còn khà năng nghe được.

Đồ đạc quần áo chất đống để chờ tôi giặt, ủi, nhưng tôi không phiền vì mình vẫn còn có nhiều quần áo để mặc.


Sau một ngày làm việc tôi mệt mỏi và đau nhức các bắp thịt, nhưng tôi vui vì mình vẫn còn có khả năng làm được những việc nặng nhọc.

Buổi sáng ngủ ngon mà bị đồng hồ báo thức, đáng lẽ phải càu nhàu, nhưng tôi vui vì biết mình còn sống.
Với những người làm việc chung với tôi, có nhiều tính khí khác lạ, tôi không phiền vì chính nhờ họ mà công việc không trở nên buồn tẻ mà trái lại thêm thích thú.

Và cuối cùng nhận được nhiều e-mail quá tôi không phiền, vì điều đó chứng tỏ rằng tôi có nhiều bạn.

Hà Giang (sưu tầm)



How to Get more Discounts with your Auto Insurance

There are many ways to get more discounts on your auto insurance, many of which are listed below:

1. Multi-car discount: you usually can get a discount if you add a second car into the same policy. With State Farm, the discount is up to 20%.  The added person can still pay for his/her own car through her own automatic payment plan.

2. Multi-line discount: Generally, if your current insurance company offers both auto & homeowner insurance, they will give a discount for bundling them together.  With State Farm, you can get up to 17% discount.

If you are renting and have no renter insurance, you should consider buying that renter policy for just around $10.5/mo. (State Farm price) & you can get enough auto discount that it pays for the renter insurance.  Now, you have more coverage for the unexpected things at the same auto premium or even lower compared to before!

3. Good driving discount: Insured drivers have no moving violations nor at-fault accidents in the last
three years are qualified for up to 10% discount with State Farm.

4. Loyalty discount: most insurance carriers will reward you for staying with them.  The longer you stay, the more discount you get, up to a maximum %.  With State Farm, it is 3% every year, up to 18%.

5. Youth-Safe Driving Program: for young drivers with less than 3 years since they got their driver license can take this class (State Farm class) & get a discount of up 15% on his/her auto insurance.

6. Good-Student Discount: for drivers under 25 that are full-time students with grade average of B or better.

7.  Drive-Safe-And-Save Discount: if you agree to report your mileage to State Farm every six month, State Farm give you a discount on your auto insurance.

8. Mature Driver Certificate Discount: this is an approved DMV class that if you take it, you can get the discounts from State Farm.  Ask me how.

There are more discounts that I can discuss with you when you call for free quote.

Dana Nguyen
State Farm Agent/Broker
Ins. Lic. # 0I74425

What to Do in Case of an Accident?

If you are in an accident, and you are not injured then write down all of the information of the other parties involved in the accident, including witnesses:
1. Names, addresses & telephones,
2. License plates and States,
3. Driver licenses,
4. Take pictures of all cars (bumpers to bumpers) at the accident scene,
5. Notify police immediately,
6. DO NOT admit fault,
7. Report the accident to your insurance agent promptly.


Dana Nguyen
State Farm Agent
Ins. Lic. # 0I74425

Sunday, July 27, 2014

How much Auto Insurance do I Need?

California only requires liability coverage to be 15/30/5. These limits were set more than 30 years ago when prices of everything were many times cheaper! Therefore, having car insurance at the State minimum is often too low to actually cover the damage sustained in auto accidents. The medical bills for ambulance & just one day in the emergency room can easily... exceed $30,000!

My advice is to get at least 50/100/25 liability limits for someone who doesn't have assets or high income.

If you own a house or a condo, consider getting at least 100/300/100.

If you own more assets and have a family, you should get 250/500/100 & also obtain 1-million-dollar personal umbrella policy. This umbrella policy covers liability (and sometimes underinsured motorist) losses results from car accidents or from your homes & possibly rental properties.

You will be amazed to find that the difference between the lowest & the high coverage of 250/500/100 is only around $20 - $25 a month in many cases (for good drivers). For a 1-million-dollar Personal Umbrella policy, it only costs around $20 - $30 a month (for the majority of us)!

That is called smart spending.
 
Dana Nguyen
State Farm Agent
Ins. Lic. # 0I74425

Auto Insurance - Un/Underinsured Motorist Coverage Double-check NOW!

I suggest you to open your declaration pages & check to make sure that:

1. You have un/underinsured motorist (UM) coverage.
2. Your un/underinsured motorist (UM) coverage limits are equal to your liability coverage limits.

I have found that several of my new clients fall into these two situations because their agents didn't do a good job explaining this important coverage to them.

In an auto insurance, there are two most important coverages that directly benefit you, the insured, in the event of an accident. They are: Un/underinsured motorist (UM) & Medical Payment (MP).

Let's talk about UM coverage in this post:

When you buy liability coverage, you are protecting the other party (or parties) that you cause the accident to. This is a good thing to do, besides, liability coverage is a required coverage when you buy auto insurance.

However, though liability coverage is required to drive a car, you will find that a lot of people drive without insurance! So, what will happen if somebody hits you and doesn't have insurance?  The answer is you will end up paying for your own damages or medical bills if you don't have un/underinsured motorist coverage! 


So, while everybody should be a good & responsible citizen, he/she should also look out for their own good (first). UM coverage is the protection coverage that pays you, as the insured, if you get hit and the other party doesn't have insurance or enough of it.  With UM, you can have a peace of mind that you will be covered regardless of the other side having insurance or not.


In fact, if you deny UM coverage, the law requires that your agent asks you to sign a UM Exclusion form & keeps it on file.


Now that you understand more about UM coverage, you should buy the highest un/underinsured motorist coverage that you can afford. Especially, when UM coverage is very affordable to buy!

I am sure some people will immediately think that they should buy much higher UM coverage limits for themselves, and the State minimum liability limits for others!

The thing is insurance companies are very smart as well. They have this rule: UM coverage limits can never be higher than the liability limits you choose.

So, go back and check to see if your liability limits = UM limits.

If not, immediately call your insurance company & makes that change right away! The premium for UM is extremely cheap, so it won't change your premium much at all. The protection is extremely important for you.

Some agents out there might not explain to you the importance of UM coverage to you; therefore, you might have asked them to reduce the coverage limits to save a few bucks a month! That agents should be "fired" for not doing his/her fiduciary duty to his clients.

Dana Nguyen
State Farm Agent
Ins. Lic.#: 0I74425
 

Friday, July 25, 2014

Phở muôn màu, đa sắc tộc, ở Cali

 

Phở Cà Ri thì có người phải chau mày đấy...

Phở, “món quà căn bản,” “street food” của người Việt Nam, vừa thông dụng, vừa thân quen, là món ăn quan trọng được đặt cao gần ngang với địa vị của cơm trong gia đình, và được yêu chuộng đến nỗi trong cách ví von, dân gian thường gọi “vợ là cơm, bồ là phở.”

Với chúng ta, phở là món ăn quốc hồn quốc túy, tương tự như hamburger với người Mỹ, pizza với người Ý Ðại Lợi, mì với người Trung Hoa, và burrito với người Mễ.

Nhưng hơn thế nữa, với người Việt ở khắp nơi trên thế giới, tô phở là hình ảnh gắn liền với quê nhà, và là nguồn cảm hứng cho những bài thơ bất tận.

Thật thế, đang lang thang trên một thành phố ở bất cứ nơi nào trên trái đất, thoáng nhìn thấy ba mẫu tự gộp thành chữ “PHỞ” thân yêu trên một bảng hiệu, người ta chợt có cảm giác ấm áp như quê hương đã gần kề.

Với biến cố 1975, phở đã theo chân hàng triệu người Việt Nam di tản ra nước ngoài, và từ đó các quán phở mọc lên khắp nơi, thoạt tiên để phục vụ cộng đồng người Việt. Nhưng hương vị độc đáo của phở đã nhanh chóng mê hoặc được người dân bản xứ và được họ đón nhận bằng đôi tay rộng mở.

Giờ đây phở là một món ăn ngày càng thông dụng, được nhiều sắc dân thưởng thức và đã nghiễm nhiên có mặt trong thực đơn của nhà hàng ở nhiều nơi.

Nhưng mỗi dân tộc lại thưởng thức món phở đặc thù Việt Nam một cách khác. Tại tiệm của hệ thống “Phở 2000” ở Garden Grove, chúng tôi gặp ông Larry Davis khách quen của tiệm.

Ông cho biết đến đây ăn phở một tuần hai lần, và rất mê phở gà, vì nó “healthy, làm no và ấm bụng, mà không bị béo!”

Ðược hỏi đã biết ăn phở từ bao giờ, ông Larry Davis, một cựu quân nhân Hoa Kỳ, bảo đã được nếm phở “lần đầu tiên từ năm 1967 khi “tôi ở đó đúng 6 tháng 23 ngày,” nhưng chỉ thực sự “mê phở khi ăn ở Little Saigon” vào năm 1978, cùng đợt với nhiều người Việt tị nạn kéo qua đây.

Tôi hỏi có phải ông cho là phở Cali ngon hơn phở Việt Nam ông bảo, “rất có thể!”

Nhưng tôi không thích ăn hành với phở. Hăng quá!”

Gần bàn bên cạnh, một cụ bà đứng tuổi người Ðại Hàn ăn mặc chỉnh tề đang chuẩn bị dùng một tô phở, và cũng order thêm một tô mang đi.

Ông Thọ, chủ nhân của “Phở 2000” cho chúng tôi biết khách của hệ thống “Phở 2000” đa số là người Ðại Hàn. Theo ông Thọ thì người khách ở đây ăn phở rất khác người Việt.

Trỏ vào bà cụ, ông kể là trước đây hai vợ chồng bà cụ thường đến ăn phở mỗi tuần. Nhưng kể từ khi ông cụ ốm, thì bà chỉ đi một mình, nhưng lúc nào cũng mua phở về cho ông.

Ðại Hàn họ ăn nhiều bánh, ít nước, trộn rất nhiều tương đỏ tương đen, ăn rất nhiều hành và nhiều chanh” Ông nói.

Tôi vừa nhìn một cặp khách vắt chanh, tương ớt vào một đĩa hành tây đầy vung, rồi trộn lên như người ta trộn sà lát, vừa nhìn quanh.

Món phở đắt khách hàng nhất ở đây có lẽ là phở đuôi bò. Chúng tôi gọi lên ăn thử. Nước dùng ngọt ngào, nhưng với “gu” người Việt Nam có lẽ hơi ít gia vị, hương thơm chỉ thoang thoảng chứ không nồng nàn, và thịt đuôi bò được hầm thật nhừ, gỡ hết xương rồi mới đem lên cho khách.

Người Việt chúng ta lại thích nhìn thấy nguyên khúc đuôi, và thích ăn sụn.” Một người bạn của tôi nhận xét.

Tại tiệm phở Hana ở Torrance, một khách hàng tên Grace, người Phi Luật Tân bảo tôi là bà rất “mê phở.”

Khi được hỏi tại sao, bà Grace ngẫm nghĩ một lúc rồi nói bắt phải giải thích tại sao thì thật là khó. Bà cho rằng sự pha trộn giữa miếng ớt tươi, vị cay sắc sảo của tương sriracha, mùi thơm dịu dàng của ngò, và thêm vị chua chua của chanh, tất cả những thứ đó làm tăng mùi thơm của nước dùng, và “với tôi, tô phở là một sự chiêu đãi cho cả toàn thân chứ không riêng chỉ cho lưỡi, mũi, và bao tử.”

Tôi nghĩ rằng phở là chế biến kỳ diệu nhất! I just love it!”
 


Tưởng đĩa rau thơm là salad


Ông Greg Hansen, người Mỹ da trắng, kể rằng lúc mới biết ăn phở, ông cứ tưởng đĩa giá rau thơm là món salad khai vị trước khi vào món phở, còn hoisin sauce và tương ớt là “salad dressing.”

Ông nói, “lúc đó tôi nghĩ phở thì OK, nhưng món sà lát này sao mà khó ăn thế. Rau quế thì đắng, lại để nguyên cành, giá thì chỉ giòn giòn, nhưng chẳng có mùi vị gì cả, dressing thì lại đặc quẹo.”

Sau này khi biết cách ăn phở tôi mới thấy là chính đĩa rau phụ đó đã làm nên món phở!” Ông tâm sự.

Người Phi Luật Tân ăn phở ra sao?

Phở Ðặc Biệt” là câu trả lời, thật nhiều gầu, gân, và nhiều nước béo.

Torrance cũng là thành phố có nhiều người Nhật. Có một số người Nhật thích ăn phở, nhưng không phải tiệm nào họ cũng ăn. Tiệm phở nào muốn bán cho người Nhật phải biết gu của họ.

Chị Út, một người chuyên nấu bếp cho các tiệm phở bán cho người ngoại quốc cho biết người Nhật ăn uống rất tinh khiết. Họ không thích ăn phở béo quá, đặc biệt cũng không thích ăn gầu, gân, sách. Còn người Ðại Hàn thì thích ăn phở với thật nhiều kim chi.

Tiệm “Phở Saigon” ở gần các hãng Toyota và Honda tại Torrance được nhiều nhân viên người Nhật ở hai hãng này chiếu cố.

Ông Fred Yakanama mê phở đến nỗi ăn phở mỗi tuần hai lần cho bữa trưa, chia sẻ “gu” ăn phở của mình:

Có thể tôi chưa bao giờ được ăn phở chính gốc. Nhưng tôi cũng biết tiệm phở nào ngon tiệm nào không. Tôi không thích phở bị béo quá, mùi đừng quá nồng, và bánh phở phải thật dai.”

Phở 97” ở Los Angeles có nhiều khách Ấn Ðộ. Ở đây những người Ấn kiêng thịt bò thì ăn phở gà, hay phở đậu hũ, còn những người kiêng heo thì chỉ ăn phở bò, và đa số ăn phở chín nước trong.

Anh Thiên, người làm bồi bàn ở đây cho biết có ông khách người Ấn đòi gặp ông chủ và bắt ông chủ nhà hàng đích thân “cam kết là không dùng xương heo trong phở bò” rồi ông mới dám ăn.

Bà Olivia Kumar trò chuyện với chúng tôi khi đang đợi order togo, cho biết vợ chồng bà thích ăn phở vào mùa lạnh, và chỉ thích mua phở về nhà ăn, mặc dù luôn luôn được mọi người bảo là phải ăn phở tại chỗ, nóng hổi mới ngon. Bà nói:

Không hiểu tại sao chúng tôi lại cứ thích ngồi ở sa lông, vừa ăn phở vừa xem tivi, mỗi người chùm một cái chăn mỏng. chồng tôi thích ăn phở gà, còn tôi thích ăn phở rau với đậu hũ.”

Tại sao không có phở với càri? Tôi nghĩ sẽ ngon lắm!” Bà Olivia Kumar bàn.

Anh Michael Feliz cho chúng tôi biết anh rất mê phở, vì những thứ rau được dọn lên ăn chung với phở rất có ít hương vị của quê anh (Mễ Tây Cơ).

Chúng tôi rất thích ngò và chanh xanh (lime)”
 


Phở và giới trẻ Mỹ
 


Trong giới những người đi làm, phở đang là món ăn trưa rất phổ biến. Vậy giới trẻ thì có thích ăn phở không, tại sao, và họ ăn phở như thế nào?

Trần Uyên Thao, một học sinh lớp 11 ở Cerritos High School, Cerritos giúp chúng tôi làm một survey và post lên Facebook cho bạn bè của các em trả lời. Ða số thành viên trong network này là các học sinh lớp 11, 12 và sinh viên năm thứ nhất tại Nam Cali.

Trong vòng 36 tiếng đồng hồ, 90 em đã trả lời, với kết quả như sau:

Trong 90 mươi em, 25% là người Việt Nam, 30% người Ðại Hàn, 12% người Phi Luật Tân, 10% người Nhật, 8 % người Ấn Ðộ, và 15% là người Mỹ trắng.

Ða số các em Mỹ trắng và Nhật ăn phở một lần mỗi vài tháng, người Phi đa số ăn phở mỗi tháng một lần, người Ðại Hàn mỗi tuần một lần, và người Việt Nam mỗi tuần vài lần.

Hơn 80% các em ăn phở thay cho bữa trưa hoặc tối, số còn lại ăn phở điểm tâm.

Số người ăn phở chín cao nhất, kế đến là tái, phở gà, bò viên, và ít em thích ăn gầu, gân, sách.

Ða số đều dùng được hoisin sauce và tương ớt. Không em nào ăn nước mắm với phở.

Chanh được hơn 80% dùng, hầu như ai cũng ăn giá và hành. Chỉ hơn 40% ăn rau quế, và non nửa dùng được ngò.

Tại sao các em thích phở?

Câu trả lời của cuộc survey được xếp theo thứ tự: Ngon, nóng, no, rẻ và tiện lợi, ăn lúc nào cũng được, không phải chờ lâu.

Dưới đây là lời bình của một số em:

Khi bị cảm lạnh hay bị hang over, là lúc ăn phở ngon nhất và thích nhất.”

Sau khi đi ‘track meet’ với trường về, đi ăn phở một đám đông rất vui.”

Rẻ, ngon, và có vẻ healthy!”

Ăn xong thấy ấm bụng và rất đã. Ước chi em có tiền sẽ ăn phở thường xuyên hơn.”

Mẹ em đang học nấu phở, nhưng có lẽ bà sẽ chế thêm cà ri vô. Mẹ mà thành công em sẽ ăn phở thả cửa và mời bạn tới trong track team tới ăn.”

Giờ đây người ta mở các tiệm phở không chỉ để nhắm vào cộng đồng người Việt, mà cho tất cả mọi người thưởng thức. Thậm chí, trong một bản tin của National Restaurant Association, phát hành Tháng Mười năm ngoái, một thành viên của hội còn phát biểu là nếu biết kỹ nghệ hóa, trong vòng “hai mươi năm nữa, phở có thể cạnh tranh với pizza.”

Cũng như pizza toppings, giới phân tích tiên đoán là món phở sẽ biến dạng, và dần dà người ta sẽ nấu phở theo nhiều cách khác nhau, và một ngày nào đó các vị “sư tổ” của món phở, nếu có sống dậy, sẽ không còn nhận diện được món ăn do chính mình chế ra nữa.

 

Phở chế biến


Người Ấn Ðộ thì lăm le bỏ càri vào phở. còn người Ðại Hàn thì nhất định phải ăn phở với Kim Chi.

Chế biến một tí thì được, nhưng Phở Cà Ri có thể sẽ làm những người mê món phở thuần túy chau mày, hay nhăn mặt đấy!

Tôi phân vân không biết giữa càri và kim chi, mùi nào sẽ tác hại nhiều hơn cho tô phở bắc thuần túy?

Bàn về việc món phở Việt Nam bị “chế biến”, chủ nhân của blog Bolsavik, trong một bài có tựa “Phở, cái giá phải trả cho sự phổ biến!”, đã viết về việc món phở bò bị chế biến thành “Phở Cà Ri Gà” và “Phở Tôm Cay” trong một food court ở Santa Ana:

Bạn biết là món phở đã ‘đạt’ khi người ta bắt đầu ‘làm hỏng’ nó.”

Và blogger Bolsavik phán (với chút ngậm ngùi):

Không thể quyết đoán là món ăn quốc hồn quốc túy của bạn được cả thế giới ưa chuộng cho đến khi những nước khác bắt đầu sửa đổi món ăn của bạn cho thích hợp với khẩu vị của họ!”

Cuối tuần, tôi tìm đến food court này để nhìn cho tận mắt cảnh tô phở thân yêu của mình bị “làm hỏng.”

Quả tình là nơi đây có cảnh những người Latinos to béo đang ngồi xì xụp một cách mãn nguyện bên những “tô phở” của họ. Và không biết họ làm gì mà tô phở trông vừa nâu vừa đỏ. Mùi tương đen nồng nặc, và mùi ngò sực lên. Trên bàn, lỏng chỏng mấy cái đuôi tôm, và một đống vỏ chanh.

Có lẽ đây là món “Phở Tôm Cay” chăng? Tôi nghĩ.

Tò mò, tôi tần ngần muốn gọi một tô nếm thử. Nhưng không biết vì tự ái dân tộc, vì trung thành với tô phở bắc thuần túy, hay vì không thích mạo hiểm, tôi chặc lưỡi “thôi chả dại,” rồi bỏ đi.

Có lẽ tôi cũng đang ở trong tâm trạng chưa chấp nhận một món phở biến dạng nhanh thế, dù hiểu rằng con người không thể cản được bánh xe lịch sử.

Không biết trong tương lai món phở Việt Nam sẽ ra sao. Nhưng tạm thời tôi vẫn cứ an tâm, là ít nhất tại khu Little Sài Gòn, món phở như tôi vẫn ăn từ tấm bé hiện giờ vẫn còn đang nguyên vẹn, dù đôi khi có phải “vừa ăn vừa rón rén.”

Hà Giang

Tuesday, July 22, 2014

Bạn tôi, Nguyễn thị Xuân

Vào trường trung học Nguyễn Thượng Hiền (lúc đó còn gọi là trường Tân Bình) năm lớp Tám, sau khi xong lớp Chín, vì trường Tân Bình không có ban C, tôi chuyển trường, ra đi.

Ào vào rồi cũng ào ra, hai năm của một cuộc đời giờ đã dài nhanh như cắt, kỷ niệm ở Nguyễn Thượng Hiền 
không nhiều, nhưng có những hình ảnh, khuôn mặt, cứ lẩn khuất sâu trong ký ức, chỉ cần một gợi nhớ hiện là rõ trong tâm trí.

Một trong những khuôn mặt ấy là của bạn tôi, Xuân, Nguyễn Thị Xuân. Xuân với tôi hình như còn học chung ở một trường trung học tư khác trước khi được chuyển vào trường Tân Bình. Lâu quá rồi, không nhớ!

Giờ đây nhắc đến Xuân tôi không chỉ cảm động mà còn bật cười. Tôi với Xuân một thời thân thiết là thế, mà phải mãi đến hơn 40 năm sau, trong một dịp hết sức tình cờ, khi đã xa cách nhau bằng cả thời gian lẫn không gian, tôi mới được biết Xuân có cái biệt hiệu rất độc đáo: “Xuân Còi.”

Tối hôm ấy Xuân Lan, Kim Chi, Hoài Việt, Nguyệt, Phạm thị Hoa, Nghiêm Thúy, Liệu và tôi có một cuộc gặp gỡ ngẫu hứng và cấp kỳ sau khi đại hội Nguyễn Thượng Hiền kết thúc, và trước khi Xuân Lan giã từ bạn bè ở Nam California, trở về “nguyên quán.” 

Đã cả mấy chục năm không liên lạc, nhưng khi gặp lại câu chuyện vẫn nổ như bắp, những tràng cười hầu như liên tục của tụi tôi đã kéo được ngay hai ông xã của Xuân Lan và Kim Chi lọt vào cái không khí thật gần gũi của nhóm bạn cùng trường thời bé dại.

Ôn lại kỷ niệm, Chi nhắc:

“Mấy bồ nhớ Nguyễn thị Xuân không? Mãi sau này Chi mới khám phá ra là tại sao mình gọi Xuân là “Xuân Còi...” 

“Xuân Còi à, Hà chưa bao giờ nghe, nhưng chắc tại Xuân nó nhỏ con, nên bị chê là còi chứ gì?”

“Trước Chi cũng nghĩ thế, nhưng sau này mới biết là bạn bè gọi Xuân là còi vì giọng Xuân to, cứ y như cái còi, mấy bồ nhớ không?”

Mọi người cười ầm trước lời giải thích của Chi, rồi lại nhao nhao nói qua đề tài khác. Riêng tôi, dáng dấp nhỏ nhắn, mái tóc dài ngang vai, nước da ngăm ngăm và nụ cười làm rạng rỡ hẳn khuôn mặt của Xuân đã kéo tôi về một nơi mênh mang kỷ niệm ngày mới lớn.

Vừa học cùng lớp, vừa ở gần nhau, hình như tôi với Xuân gặp là thân ngay. Ban ngày gặp nhau ở trường chưa đủ, chiều về, nếu không qua nhà tôi, thì Xuân cũng kéo tôi qua nhà mình cho bằng được. Hai đứa nhiều khi ăn cơm ở nhà nhau. Gặp cả cha mẹ anh em nhau. Xuân và tôi cùng là con cả, hai đứa có hai người em trai cùng tuổi, sự thân thiết của hai bà chị khiến hai ông em dần dà cũng trở thành... bạn luôn.

Kỷ niệm với Xuân thì khôn kể, nhưng với tôi, rõ nét nhất là thời gian chúng tôi học chung lớp dạy thêm Anh ngữ buổi tối ở một trường tư thục. Lớp học tối từ 6:30PM đến 9:00PM với tôi là một thời gian thú vị. Có Xuân đi cùng, tôi không phải chờ bố chở đi đón về, thoải mái biết mấy.


Thường ăn cơm tối xong, Xuân đạp xe đạp qua nhà tôi, trong không khí mát dịu của buổi tối, hai đứa thong thả đạp xe song song đến trường. Tối học xong, đứa nào có tiền thì bao đứa kia (mà thường thì Xuân bao nhiều hơn) uống sinh tố, hay ăn ly kem trước khi đạp xe về nhà.

Lúc ấy, ở cái tuổi 12-13 tôi bắt đầu mơ mộng, và hay có những phút tư lự, thương nhớ vu vơ, những nỗi buồn không tên cứ bất chợt kéo đến mà không sao đuổi đi được. Riêng Xuân lúc nào cũng hồn nhiên, líu lo, nhí nhảnh. Xuân có lẽ là người chứng kiến hết tâm tư của thời gian tôi chuyển mình từ “con nít thành người lớn” mà cô nàng không mảy may hay biết.

Lớp học Anh ngữ thoạt đầu thật uể oải, cứ vài tuần trường lại bất ngờ đổi một thầy khác, cho đến một buổi tối, khi chúng tôi đến lớp, thì gặp một người đàn ông cao lớn, trạc tuổi 30, da ngăm đen, đang chờ sẵn ở đó.

Tôi nhìn ông với đôi mắt thiếu thiện cảm, chép miệng lắc đầu “Lại đổi thầy, chán thật!” Chúng tôi ngồi bàn đầu, thấy tôi không buồn che dấu sự bất mãn, sợ ông thầy buồn, Xuân ngồi bên cạnh, húc cùi chỏ. 

“Im đi, nghe thầy nói kìa.”

Người đàn ông xa lạ đó đến trước bục, nhìn chúng tôi bằng tia mắt thân thiện, và nụ cười hơi mỉm, rồi nói:

“Chào các em, tôi tên là Trịnh Văn Tây, tôi sẽ phụ trách lớp các em từ giờ cho đến cuối khóa. Tôi biết lớp của các em đã bị đổi thầy mấy lần rồi. Thay mặt trường, tôi xin lỗi các em, và hứa sẽ không bỏ các em cho đến khi khóa học chấm dứt.”

Từ giờ cho đến cuối khóa còn khoảng hơn năm tháng nữa. Thôi cũng được. Tôi thầm nghĩ. Lúc đó cả thầy Tây và chúng tôi đều không biết đây là lời hứa mà thầy sau này không giữ được.

Sau chỉ hai lớp học, thầy Tây nhanh chóng “thu phục” lớp tụi tôi, lúc đó khoảng 25 người ở đủ mọi lứa tuổi. Thầy có cách dậy linh động và sự tận tâm của một người yêu nghề. Trong giờ nghỉ 15 phút, thầy không bỏ ra ngoài hút thuốc mà chăm chú xem lại bài kiểm, trả lời một vài học trò, hay hỏi chuyện học hành của chúng tôi buổi sáng. 

Có lần một chị lớn tuổi trong lớp cắc cớ hỏi “thầy có cô chưa?” Thầy đỏ mặt lắc đầu nói là thầy bận lắm, ban ngày đi làm cho một căn cứ quân đội Mỹ ở Long Bình, buổi tối đi dạy học, vì rất thích dạy học.


Dần dà, với chúng tôi, nhất là với tôi, thầy Tây gần gũi như một người anh lớn trong gia đình, vừa đáng kính vừa đáng mến.

Nói về cái khó của sự dịch thuật. Biết tôi thích thơ, thầy Tây đố lớp chúng tôi dịch hai câu Kiều 
“tiếc thay một đóa trà mi, con ong đã tỏ đường đi lối về” qua anh Ngữ. 

Ham học, cả Xuân với tôi cùng hí hửng tìm cách dịch, nhưng có cố gắng mấy thì cũng đành chịu thua, cho đến khi thầy Tây đưa ra hai câu mà thầy tạm dịch, tuy “vẫn chưa vừa ý”, còn tụi tôi thì đứa nào cũng tấm tắc.

Hai câu này tôi còn nhớ rõ là:
“How pityful the flower is,
 the way to and fro has been known by the bee.”


Gặp được người thầy vừa ý, Xuân và tôi tấn tới thấy rõ, Anh ngữ của hai đứa khá hẳn lên. Bố tôi vui lòng lắm, và thường khen ngợi Xuân, bảo Xuân là người bạn tốt. Tôi thương Xuân ở chỗ Xuân rất nhiệt tình, tốt bụng, hay để ý săn sóc và chịu khó chiều bạn, dù nhiều lúc Xuân than “chịu, không thể nào hiểu nổi” con bạn “gàn bướng.” 

Trong lớp, vì siêng học, Xuân và tôi được thầy Tây chú ý, dường như bất cứ câu hỏi nào của thầy hai đứa cũng đều dơ tay xin trả lời, và khi giảng bài, thầy luôn luôn hướng về phía chúng tôi. Dần dà, không biết Xuân thì sao, nhưng tôi, quen với việc được thầy quan tâm, xem đó là một lẽ đương nhiên, là quyền của mình.

Một kỷ niệm buồn cười xẩy ra trong khóa học khiến hai đứa thân hơn, và khiến Xuân, dù nhỏ hơn tôi gần một tuổi, có dịp bày tỏ sự trưởng thành bao bọc của một người chị.

Học được hơn nửa khóa, buổi tối hôm ấy, lớp chúng tôi có một chị học trò mới, hơi lớn tuổi. Như thường lệ, thầy Tây hỏi tên người học trò mới và bảo chị đọc một đoạn văn trong cuốn sách. Cả lớp học khúc khích cười, vì chị đọc tiếng Anh mà cứ chữ "L" đọc thành "N" nghe buồn cười quá không nhịn được, khiến thầy Tây thật lúng túng. Rồi suốt buổi học, thầy không để ý đến ai mà chỉ chăm chú luyện giọng cho chị học trò mới, dành hết thời gian cho chị. Tôi tự nhiên thấy lòng buồn vô hạn, chỉ mong sao đến giờ nghỉ giải lao để bỏ ra khỏi lớp. Bên cạnh tôi, Xuân ngơ ngác, thỉnh thoảng lại thúc cùi chỏ hỏi nhỏ “Hà sao vậy?”

Chuông giờ giải lao vừa báo, tôi chạy vội ra khỏi lớp, tìm một góc vắng đứng thút thít khóc. Xuân vội vã chạy theo, chẳng hiểu tại sao tôi khóc, nhưng đến gần, ôm lấy vai tôi, vỗ về “nín đi, nín đi, đừng khóc nữa, Xuân buồn”.

Khóc một lúc, nỗi tủi thân vơi đi, tôi vừa nấc vừa nói với Xuân: “thầy chẳng để ý đến ai nữa, chỉ lo luyện giọng cho chị đó!”

Xuân nhìn tôi, vừa ngạc nhiên vừa như vỡ lẽ ra, thầm thì nói: “Hà không thấy chị đó nói "L" thành "N" sao? Thầy cố tập cho chị nói tiếng Anh khỏi ngọng đó mà.”

Chỉ sau vài buổi, thầy Tây bỏ cuộc vì nhận ra việc giúp chị học trò mới đổi "L" thành "N" và ngược lại là điều vô phương, có thể còn làm cho cô học trò ngượng. Còn chị cũng thôi không đến lớp có vẽ vì nản và buồn.

Ngày vui qua mau. Thầy trò sinh hoạt với nhau được khoảng ba, bốn tháng, một hôm thầy Tây đến lớp trễ. Tôi  nóng ruột không thể tả. Thường thì thầy bao giờ cũng đến lớp sớm để soạn bài chờ học trò, chứ chưa bao giờ để chúng tôi chờ đợi.

Việc gì phải đến đã đến. Vào lớp với khuôn mặt buồn rười rượi, thầy Tây xin lỗi chúng tôi, rồi đằng hắng:

“Hôm nay thầy có một tin buồn báo với các em, thầy vừa bị gọi động viên, phải trình diện nhập ngũ trong vòng 2 tuần nữa. Tuần sau sẽ là buổi học cuối. Chúng ta còn 5 tuần nữa mới hết khóa, thầy xin lỗi đã không dạy được các em cho đến khi mãn khóa như đã hứa.”

Nghe thầy nói, tôi lặng người, như vậy là mọi việc bỗng nhiên sẽ chấm dứt? Hợp tan là thế đó sao? Mặc cho mọi người trong lớp nhao nhao đề nghị buổi học tuần tới sẽ là bữa tiệc tiễn thầy, tôi như chết đuối trong nỗi buồn của mình. Hình như trong giờ giải lao mọi người quyên tiền mua quà cho thầy, hình như có người mua thiệp, và có người đi thu chữ ký. Tôi không nhớ, không nghe gì nữa ngoài những lời “tuần sau là buổi học cuối.”

Biết tôi buồn, Xuân không nói gì, chỉ nắm lấy tay tôi xiết chặt. Hình như khi đứng trước một nỗi buồn quá lớn, im lặng là cách bầy tỏ sự thông cảm hay nhất. Ngồi thu mình trên ghế, tôi mơ hồ cảm thấy mình may mắn luôn có Xuân bên cạnh, chia xẻ mọi tâm trạng. 

Lớp học cuối với thầy Tây là một buổi tâm tình và văn nghệ bỏ túi. Thầy Tây dặn chúng tôi phải tiếp tục học cho hết khóa, phải ngoan với thầy, cô mới, thầy viết tên và địa chỉ tạm liên lạc lên bảng, và hứa sẽ viết thư cho chúng tôi sau khi đã yên ổn trong quân ngũ. 

Lớp chúng tôi cử ra một chị lớn để đại diện. Tôi để mặc cho Xuân ghi ghi chép chép. Trước giờ chia tay, thầy Tây lấy cây đàn guitar mang theo, dạo đàn và nói thầy hát tặng các em một bài nhạc thầy rất thích. Đó là bản “Đêm Nguyện Cầu” của Anh Bằng.

Cả lớp học trùng xuống, khi tiếng hát trầm buồn và hay bất ngờ của thầy Tây vươn lên:

“...Thượng Đế hỡi có thấu cho Việt Nam này,
Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài
Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn.
Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền.
Vì đất nước đang còn ưu phiền.
Còn tiếng khóc đi vào đêm trường triền miên...”

Tiếng hát của thầy Tây làm tôi xúc động. Cố nén nỗi buồn, tôi ngước lên, nhìn thầy chìm đắm trong tình cảm của lời, mà trong lòng thấy nhen nhúm một niềm cảm thông và nể trọng mới cho người thầy từ lâu mình vẫn quý mến.

Tiệc tiễn thầy Tây tàn lúc giờ giải lao bắt đầu. Lưu luyến đến đâu, chúng tôi cũng phải chia tay. Không muốn về nhà ngay, tôi bắt Xuân đạp xe cùng tôi tìm con đường dài nhất để về nhà. Chúng tôi đạp xe qua trường đua Phú Thọ, hai đứa im lặng bên nhau. Đường vắng, chỉ nghe tiếng vòng xe đạp quay lanh canh, gió lạnh nhưng không làm tôi buốt giá bằng nỗi buồn.

Được một lúc tôi hỏi Xuân:

 “Xuân ơi, Xuân có biết lãng mạn là gì không?”

 Xuân im lặng cùng tôi đạp xe về đến gần nhà, mới nói:

“Xuân không biết, nhưng chắc yêu thầy là lãng mạn.”

Hai tháng sau, Xuân đến nhà tôi trong một chiều hè, líu lo khoe, có thư thầy Tây. Thầy gửi lời hỏi thăm tụi mình, đặc biệt là gửi lời hỏi thăm Hà đó.

Chúng tôi xúm lại đọc đi đọc lại bức thư dài hơn hai trang. Thầy Tây kể chuyện đời lính, cuộc sống trong quân ngũ, những cực nhọc, nỗi sợ xen lẫn hy vọng, dặn dò chúng tôi chịu khó học hành, chúc Xuân vẫn hồn nhiên, láu lỉnh, chúc Hà vẫn đa sầu đa cảm. Tôi cẩn thận ghi lại địa chỉ của thầy, hình như có chữ 
KBC trong đó. Tôi nhớ có viết cho thầy một bức thư rất "não nùng", hình như tỏ lộ hết tình cảm người con gái mới lớn, một bức thư không bao giờ được hồi âm.

Hai năm sau, Xuân lại tìm đến nhà, kể chuyện thầy Tây. Lúc này chúng tôi ít gặp nhau, vì tôi đã chuyển qua trường nữ trung học Gia Long được vài năm rồi, không còn học ở Nguyễn Thượng Hiền nữa.

“Cuối tuần đi chợ Bến Thành, Hà biết Xuân gặp ai không?”

“Chịu, không biết!” Tôi lắc đầu. 

“Thì gặp thầy Tây của Hà chứ còn ai nữa.” Xuân vẫn líu lo như trước.

“Thầy Tây đi với người bạn gái, cỡ tuổi thầy, khá đẹp. Hai người sắp lấy nhau. Thầy hỏi thăm Hà, và nhất định bắt Xuân đứng chờ để đi mua tặng cho Hà một cành hoa.”

Tôi đón cành hoa sen trắng đã hơi héo úa từ tay Xuân, cảm động.

Mỉm cười, Xuân nói: “Không phải chỉ một mình Hà là biết lãng mạn đâu đấy nhé!”

Xuân ơi, bây giờ Xuân ở đâu?


Hà Giang

Monday, July 21, 2014

Viết về 60 năm di cư, quắt quay nhớ mẹ...

Mấy tuần này phải "bế môn tỏa cảng," gạt tất cả mọi công việc ra ngoài, đọc cả trăm trang trang tài liệu, thêm hai cuốn sách tiếng Anh, để nghiên cứu và viết cho xong loạt bài cho dịp kỷ niệm 60 năm di cư.

Sáng Chủ Nhật ngày 20 tháng Bảy, 2014, xuống tòa soạn, nhìn ấn bản đặc biệt "Passage to Freedom - hành trình sang phía tự do" của nhật báo Người Việt, đầu vẫn còn choáng váng nhưng trong tim len lén một niềm vui. 

Ra phố Bolsa, thấy người người chen vai nhau mở báo ra vừa đọc vừa bàn luận ở những quán cà phê, niềm vui tăng hơn một tí. Nhưng buổi trưa, khi đến dự hội ngộ kỷ niệm 60 năm di cư của các (cụ) cựu sinh viên Đại Học Hà Nội & Đại Học Xá Minh Mạng Sài Gòn, mà cụ trẻ nhất bây giờ cũng đã hơn 80 tuổi, thì mới thật cảm động và thấy lòng ấm áp.

Một điều không ai biết, là trong suốt thời gian làm việc căng thẳng ấy, và cả những phút giây thoải mái khi việc tạm xong, có một người rất thân vẫn song hành với tôi trong tâm tưởng. Và nếu không có ký ức về người, về những câu chuyện được nghe kể từ tấm bé mà đến giờ vẫn còn sống động trong trí nhớ, thì thời di cư của hơn 1 triệu người  Bắc vào Nam, với tôi có lẽ không là một mốc lịch sử gây nhiều ấn tượng và xúc động như vậy.

Người đó chính là mẹ tôi!

Mẹ ơi, mẹ vẫn lẩn quẩn bên con trong thời gian hai tuần lễ vừa rồi phải không? Nếu vậy thì chắc mẹ biết là con đã nghĩ đến mẹ trong từng câu viết. Và những hôm như hôm nay, con "sáo sậu" (tên mà mẹ đặt cho) của mẹ nhớ mẹ vô cùng, nhớ như chưa bao giờ biết nhớ.

Không nhớ làm sao được khi từ lúc mới 5, 6 tuổi, mẹ đã nói cho tôi nghe về Hiệp Định Geneve, về chuyến di cư đầy nguy hiểm của bố mẹ, chuyện mấy lần mẹ xuýt bị bắt, vì cứ từ Hà Nội đi đi về về Nam Định nhiều lần xem ông bà nội có đổi ý chịu di cư vào Nam không, vì không muốn người chồng mới cưới phải buồn vì mẹ và bố quyết định vào Nam, mà phải để ông bà Nội ở lại miền Bắc. Cũng vì chờ mà bố mẹ nấn ná đến giờ phút cuối, suýt nữa bị kẹt ở lại.

Hồi nhỏ bố hay đi làm xa, em S. thì còn nhỏ. Tôi cứ thích lẩn quẩn cạnh mẹ. Mẹ hay vừa may vá hay luôn tay làm những việc gì đó, vừa hát.

Những lúc mẹ nấu cơm, tôi cứ nhất định đòi theo xuống bếp, dù chẳng biết làm gì, có khi còn làm vướng chân mẹ nữa, nhưng cuối cùng thì cũng được mẹ giao cho việc nhặt rau, hay những việc lặt vặt không tên. Tôi thích lẩn quẩn bên mẹ chẳng phải vì thích phụ việc, nhưng vì thích nghe mẹ kể chuyện.

Thường thì mẹ mở đầu câu chuyện bằng: "Ngày mới di cư vào Nam..." hoặc nếu không thì lại bằng: "Hồi còn ở ngoài Bắc..."

 
Lúc ấy còn bé nên tôi chẳng thắc mắc tại sao chuyện của mẹ đa số toàn chuyện hồi mới vào Nam hay hồi còn ở Bắc. Khi lớn lên, và khi chính bản thân mình cũng di cư lúc chạc bằng tuổi mẹ, mới hiểu biến cố 1954 đã làm thay đổi đời mẹ và lịch sử Việt Nam như thế nào. Và hiểu khi nhắc đến chuyện ngày xưa, là vì mình đang ôn lại những chuyện ngày xưa ấy. Chắc những lúc  kể chuyện cho tôi nghe, mẹ nhớ Hà Nội, nhớ quê hương lắm.

Ngày qua ngày, chuyện mẹ kể như kho văn chương truyền khẩu đưa tôi vào đời, những câu chuyện sống động mà đến bao nhiêu năm sau vẫn hằn trên trí nhớ. Nhưng thỉnh thoảng cũng có nhiều chuyện tôi không nhớ được mạch lạc, thầm ao ước giá có mẹ bên cạnh thì tha hồ hỏi, để thấm thía được nỗi buồn của đứa con sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ.

Mẹ kể nhiều chuyện nhưng không hiểu những chuyện về chuyến di cư của bố mẹ tôi lại nhớ nhất. Nhớ cách đây bốn năm vào dịp 30 tháng Tư, khi đọc cuốn Deliver Us from viết về cuộc di cư 1954, tôi cũng nhớ mẹ da diết:

"...Lật vài trang, tôi như bị thôi miên bởi những tấm hình trắng đen ghi lại cuộc di cư của hơn một triệu người trốn chạy cộng sản từ Bắc vào Nam. Những hình ảnh trông còn thê thảm hơn cảnh vượt biên của “boat people” vào biến cố Tháng Tư, 1975.

Tôi lật thêm vài tấm hình nữa. Toàn là những khuôn mặt chứa đầy hãi hùng, đau thương. Nhưng tại sao những hình ảnh xa lạ này lại thân thuộc đến thế?Một luồng điện chạy xẹt qua người. Phải chăng có hình ảnh cha mẹ tôi trong đám người hốt hoảng ấy kéo nhau di cư vàoNam năm ấy?



Ðột nhiên những câu chuyện mẹ tôi kể về cuộc di cư từ Bắc vào Nam của thế hệ bà, mà tôi đã nghe nhiều lần từ tấm bé ào ạt trở về.



Và những hình ảnh trước mắt chợt làm sống động những câu chuyện trước đây tôi chỉ được nghe mà không thể hình dung.



Lịch sử đang được phơi bày trước mắt. Những hình ảnh có thật, được ghi lại, kể lại bằng một nhân chứng sống, và một người ngoại quốc, lại làm tôi nhớ những điều đã được nghe mẹ kể, từ lâu lắm.."..."Ngày mới di cư vào Nam bố mẹ hai bàn tay trắng. Nhà ông bà nội cũng khá, nhưng có bao nhiêu tiền bà nội mình đưa cho cô Quang (chị ruột của bố) để gia đình cô chuẩn bị đi, vì sợ vào Nam cô Quang khổ. Còn bố mẹ thì bà không cho đồng nào, vì nói rằng đã có ông ngoại lo. Ông ngoại thì sau khi chạy loạn về quê cũng chẳng còn đồng nào."
..."Ngày mới di cư vào Nam nhà mình nghèo lắm, bố thất nghiệp tìm mãi chưa được việc còn mẹ thì buôn thúng bán bưng. Lúc có bầu con, mẹ phải gánh quang gánh đi bán lúc trời mưa lạnh, đứng dưới hàng hiên nhà người ta mà người run lên, có thể vậy mà lớn lên con hay bị cảm..."

Hôm nay buồn. Hôm nào bình tâm phải viết lại những điều mẹ kể, ghi lại mộ một kho lịch sử truyền khẩu...
 


 


 

60 năm Geneva, nghĩ về cuộc hội ngộ vẫn còn dang dở

Vũ thị Phương Anh

Hôm nay là ngày 20/7. "Hai mươi tháng bảy, toàn dân Nam nhớ thương" .... Mỗi lần đến ngày này, tôi lại nhớ đến câu hát ấy, được lấy trong một bài hát về "ngày quốc hận" dưới thời VNCH mà giờ đây hình như không còn ai biết đến nữa. Vâng, 20/7 được xem là ngày quốc hận vì cách đây đúng 60 năm, một cuộc chia lìa vĩ đại trong lịch sử VN đã được định đoạt, kéo theo 21 năm chiến tranh triền miên với bao nhiêu máu xương đổ xuống hai miền để đất nước thống nhất vào năm 75.

Còn nhỏ khi học sử dưới thời VNCH thì tôi nghe người ta lên án miền Bắc cộng sản vì đã ký vào Hiệp định chia đôi đất nước, đưa chủ nghĩa cộng sản vào VN gây cảnh chia lìa và chiến tranh tang tóc, để cả nước phải chịu cảnh "đêm sông Hương nhung nhớ, ngày Cửu Long mơ ... mơ một ngày Hồng Hà góp hội trùng dương" như trong lời một bài hát của TCS. Đối với người miền Nam lúc ấy, nước Mỹ là một đồng minh giúp VNCH xây dựng một chế độ tự do dân chủ tại một nửa đất nước, nền dân chủ ấy tất nhiên là còn rất non trẻ và vô cùng khó khăn (vì sự quấy phá liên tục không ngừng nghỉ bằng vũ lực của Việt Cộng với sự hỗ trợ của miền Bắc, với sự ra đời của Mặt trận giải phóng miền Nam dưới sự chỉ đạo của Đảng Lao Động VN ngay từ năm 1960 khi Mỹ chưa hề trực tiếp đặt chân vào miền Nam). Chỉ mới 21 năm, nhưng  VNCH cũng đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận và có một số thành tựu về kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục y tế ....

Nhưng sau ngày "giải phóng" thì HĐ Geneva đã xuất hiện với những ý nghĩa khác hẳn: Ta chiến thắng vẻ vang, Mỹ thay chân Pháp tiếp tục xâm lược, ta bắt đầu cuộc chiến tranh thần thánh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đánh đổ hoàn toàn chế độ ngụy quyền SG .... (trong đó tất nhiên có cha tôi và rất nhiều người dân ở miền Nam, vì làm sao có thể khác?)
Quay lại giai đoạn 1954-1955. Cha mẹ tôi, lúc ấy mới vừa lấy nhau được ít lâu, một người 18 tuổi còn người kia 22 tuổi, sau lưng bỏ lại quê hương, gia đình và chòm xóm để cùng dòng người di cư từ miền Bắc để vào Nam trong chuyến hành trình được đặt tên là "Passage to freedom" - Đường đến tự do. Cái tên mà mãi sau này đọc tài liệu nước ngoài về cuộc chiến VN tôi mới được biết. Cuộc ra đi được so sánh với những người Mỹ đầu tiên rời bỏ nước Anh để đi tìm tự do ở vùng đất xa lạ mà sau này trở thành nước Mỹ. Với tôi, nó giống cuộc Exodus để tìm về miền đất hứa của dân Do Thái hơn. Vì cuộc hành trình đó cũng rất dài và gian lao để xứng đáng gọi là cuộc Exodus của người Việt mà có lẽ đến tận bây giờ vẫn chưa hoàn tất.
Lý do cha mẹ tôi vào Nam mà ông bà nội tôi không đi là vì ông bà còn một người con trai - anh ruột của cha tôi - đi theo Việt Minh và mất tích trong thời kháng chiến chống Pháp. Vì vậy, ông nội tôi muốn ở lại để may ra có thể tìm được bác tôi nếu bác còn sống và lưu lạc ở đâu đó, hoặc nếu đã qua đời thì cũng tìm lại nắm xương đem về chôn cất, để người chết được mồ yên mả đẹp và người sống cũng yên lòng khi thấy mình đã hoàn thành nhiệm vụ.
Quyết định như vậy, nhưng ông tôi lại khuyến khích cha mẹ tôi đi vào Nam sinh sống. Lúc ấy, cuộc cải cách ruộng đất đã bắt đầu diễn ra ở nhiều nơi, trong đó có Nam Định là nơi ông bà nội tôi sinh sống. Ngay từ trước năm 75 thỉnh thoảng khi nói chuyện về miền Bắc tôi vẫn nhớ bố tôi nhắc đến ông Trường Chinh, kể rằng ông TC đã về nói chuyện ở làng trong thời gian cải cách ruộng đất, nhớ bố tôi kể chuyện (hình như) chính cha mẹ của ông TC cũng bị mang ra đấu tố, nhớ cả câu chuyện về thói quen của những cán bộ VM là dùng đũa hai đầu, một đầu để ăn còn đầu  kia dùng để gắp cho người khác cho hợp vệ sinh. Những mẩu chuyện tôi nghe thấy lạ lùng nhưng không quan tâm vì không nghĩ nó có bao giờ ảnh hưởng đến cuộc đời mình. Nhưng có ai đoán được tương lai!

Cuộc cải cách ruộng đất ấy không làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của ông bà nội tôi vì ông tôi nghèo không có nhiều ruộng, lại có con trai (là bác tôi) theo Việt Minh nên được xem là có công với cách mạng. Dù vậy, ông tôi vẫn cảm thấy chế độ mới có lẽ không phù hợp cho đứa con trai duy nhất còn lại của ông là cha tôi, một anh học trò chân trắng (ông bà tôi tuy làm ruộng nhưng lại muốn cho bố tôi thoát cảnh làm nông dân nên đã cố gắng cho cha tôi lên Hà Nội ăn học). Mẹ tôi là người Hà Nội cũng chỉ biết buôn bán, và chắc chắn là khó sống với chế độ mới, vì quan điểm tư bản là kẻ thù, là phản động, chỉ có lao động chân tay mới là vinh quang, là chân chính, và bần cố nông mới là giai cấp của cách mạng.

Những kẻ thuộc thành phần tiểu tư sản như cha mẹ tôi (dù khi lấy mẹ tôi thì cha tôi chẳng có một xu dính túi, chỉ có một chút học hành và sức lao động mong có thể bán cho kẻ nào muốn mua!) thì là thành phần ăn bám, cần phải được cải tạo để sống trong chế độ cách mạng, mà biết có thể cải tạo được chăng! Đi vào Nam, thì may ra còn có cơ hội tìm được nghề sinh sống. Đó là suy nghĩ của ông nội tôi và cha mẹ tôi trong những tính toán rời bỏ quê hương để vào Nam, mà tôi đã nghe được khi cha mẹ tôi nói chuyện với chú (chồng của cô út) sau năm 75 khi miền Bắc đã chiến thắng trong cuộc chiến.

Một lý do khác nữa mà ông tôi khuyến khích cha mẹ tôi vào Nam là vì gia đình tôi là người Công giáo. Lúc ấy, chủ trương vô thần của chính quyền cộng sản thời ấy cộng với sự ác cảm không giấu diếm của cộng sản đối với người Công giáo khiến cho rất nhiều người không muốn ở lại quê hương với chính quyền  cộng sản, dù với họ cuộc ra đi là một cuộc phiêu lưu vô định vào một nơi xa lạ chẳng biết tương lai sẽ đưa họ về đâu. Một quyết định xé lòng, nhưng dường như đối với những người như cha mẹ tôi (và nhiều người công giáo khác) thì không còn lựa chọn nào khác. Sau này, một trong những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của chế độ mới mà tôi đọc được là cuốn Bão biển của Chu Văn, cũng nói về cuộc sống của người Công giáo ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giờ tôi không còn nhớ rõ nội dung nhưng nhớ chắc chắn hình ảnh người Công giáo dưới mắt của tác giả (và tất nhiên nó phản ánh quan điểm chính thống của chính quyền "cách mạng") là vô cùng xấu xí và dĩ nhiên là rất phản động.

Quay trở lại cuộc di cư. Sự chia cắt đau thương của ngày ấy ấy tôi biết được qua những lời mẹ tôi kể về những ngày giằng co để cuối cùng đi đến quyết định di cư, trong đó bố tôi thì nửa muốn đi - vì thanh niên trai tráng, lại cũng có chút chữ nghĩa, cũng muốn tìm cho mình một cơ hội nhiều hơn là ở lại nhà quê với cái nhìn không thiện cảm của chế độ mới và phải tự cải tạo bằng lao động để trở thành một con người chân chính! - nửa lại bịn rịn vì thương ông bà nội tôi, chỉ có hai người con trai thì một bác đã mất mà bố tôi lại bỏ đi vào Nam. Chính vì sự dùng dằng này mà bố mẹ tôi chờ mãi đến gần hết giai đoạn 300 ngày cho phép di chuyển giữa hai miền - Bắc vào Nam, Nam ra Bắc - mới quyết định vào (bố mẹ tôi vào Nam năm 1955), và chuyến đi từ quê Nam Định ra Hải Phòng để lên tàu vào Nam gặp biết bao nhiêu trở ngại vì chính quyền Việt Minh lúc ấy không muốn bị mất dân nên cản trở bằng nhiều cách.

Những điều ấy mẹ tôi hay kể cho bọn tôi nghe; bọn tôi nghe thì thấy lạ lẫm nhưng không xúc động vì mình không trải nghiệm. Nhưng điều mà tôi cảm nhận được rất rõ ràng là trong mắt bố mẹ tôi, mà nhất là bố tôi, thì làng quê miền Bắc là một cái gì đó hết sức thơ mộng, với những đêm trăng sáng mọi người quây quần ở ngoài sân hóng gió và kể chuyện cổ tích hoặc chuyện ma, hay cây đa giếng nước ở đầu làng .... Còn với mẹ tôi thì ký ức về miền Bắc là một Hà Nội vô cùng thanh lịch, thiên nhiên thì vô cùng đẹp đẽ với mưa phùn vào dịp Tết, với hoa đào đỏ thắm, với với rất nhiều hồ, nào là hồ Trúc Bạch, hồ Bảy Mẫu, hồ Tây, đương nhiên là phải có hồ Hoàn Kiếm với những cây liễu rủ lơ thơ mà mãi sau này tôi mới thấy lần đầu tiên vào cuối năm 1990 khi ra Hà Nội để nhận học bổng đi học ở Úc vào đầu năm 91.

(Nhân nhắc đến việc này cũng tôi xin lạc đề để viết mấy dòng cám ơn nước Úc, chính phủ Úc và nhân dân Úc đã tài trợ cho một đứa con nhà nghèo, lại thêm lý lịch đen như tôi cũng có cơ hội để đi ra bên ngoài ngắm nhìn thế giới, mà lần đầu tiên chỉ đi đến Thái Lan thôi là tôi đã thấy thật shock và vô cùng tủi nhục - nhưng đó là một câu chuyện khác.)
Sự thương nhớ của cha tôi còn thể hiện qua việc lưu giữ cẩn thận mấy tấm bưu thiếp in sẵn với một ít chỗ trống để điền vào (giống như bài tập làm văn của lớp một) mà cô ruột tôi gửi vào cho gia đình tôi trong thời gian 2 bên vẫn còn được quyền liên lạc - dù rất hạn chế - trong thời gian chờ "tổng tuyển cử" vào năm 1956. Tất nhiên cuộc tổng tuyển cử ấy không bao giờ xảy ra như mọi người đã biết, và lòng thương nhớ khôn nguôi ấy tôi vẫn chẳng thể nào hiểu được cho đến mãi sau này chính tôi cũng đã trải qua khi lịch sử lặp lại vào năm 1975.

Vâng, ngày 29/4 năm 1975 thì người chị cả và anh kế của tôi cũng cỡ tuổi 18 đôi mươi lại dắt díu nhau đi "di tản" (à, ai còn trẻ chưa biết thì cần nhớ "di cư" là chuyện của năm 54, còn "di tản" là việc của năm 75). Nhưng không giống năm 54 còn có 300 ngày để bàn bạc, cân nhắc và đi đến quyết định, lần này gia đình tôi và những người khác nữa chẳng có ngày nào mà chỉ là một quyết định tức thời trong "cuộc tháo chạy tán loạn" năm ấy. Anh chị tôi ra đi, để lại cha mẹ tôi và 6 đứa con còn lại mà tôi là đứa lớn nhất, năm ấy chưa đầy 15 tuổi, và một trời thương nhớ lại bắt đầu, bây giờ đã chuyển sang đến thế hệ của tôi.

Tôi vẫn nhớ, thực ra ban đầu cha tôi đã đồng ý cả gia đình sẽ cùng đi. Trước đó, theo kế hoạch đã bàn bạc sẵn thì mẹ tôi đã sắp xếp đồ đạc vào túi xách để đem đi di tản. Tôi nhớ mẹ tôi đã chuẩn bị cho anh chị em tôi mỗi người một túi vải với mấy bộ quần áo, một ít lương khô, một ít tiền và 2 cây vàng, phòng hờ  lỡ có đánh nhau to mà lạc mất nhau thì mỗi người cũng còn có thể sống sót ít lâu. Trong nhà tôi có hai chiếc xe gắn máy, một chiếc Vespa Sprint do cha tôi chạy và chiếc xe Honda PC do chị tôi chạy. Kế hoạch của cha tôi là chị tôi chở anh tôi ra cảng SG trước, rồi quay về đón tôi và đứa em kế, còn cha tôi thì đi chiếc xe Vespa chở mấy đứa nhỏ và mẹ tôi chừng vài vòng là hết.

Lúc ấy khoảng gần 5 giờ chiều, cha tôi lấy chiếc Vespa Sprint đi một vòng để xem chỗ tàu đậu và nghe ngóng tình hình, bỗng trở về và nói: Ở ngoài đó hỗn loạn lắm, đi ra ngoài đường lúc này vô cùng nguy hiểm, đạn pháo khắp nơi, không biết sống chết thế nào. Thôi, không đi đâu hết, có chết thì cùng ở lại chết với nhau thôi. Đúng ngay lúc ấy thì chị tôi về đón tôi sau khi đã bỏ anh tôi ở cảng SG. Tôi nhớ mình đã ngồi lên yên xe (chiếc xe Honda PC nhỏ nhắn thời ấy đang được xem là rất mốt, phù hợp với các cô thiếu nữ) nhưng rồi cha tôi đã gọi giật lại, bảo tôi xuống xe và bảo chị tôi ra đón anh tôi về nhà. Chị tôi hơi ngỡ ngàng khi thấy tôi xuống xe, trân trối nhìn tôi, rồi chị quay sang nhìn cha tôi, hơi gật đầu rồi quay xe đi.

Tôi vẫn nhớ mãi cái hình ảnh cuối cùng ấy: Mặt chị căng thẳng, như hơi đanh lại, tóc dài bay bay khi phóng xe đi, và ngay lúc ấy một ý nghĩ bỗng thoáng qua trong đầu tôi nhưng tôi không dám nói với ai, rằng chắc chắn là chị tôi và anh tôi sẽ quyết định đi luôn chứ không quay lại nữa đâu. Và tôi đã đúng. Để sau ngày 30/4, cứ mỗi lần thấy một đồ vật gì của chị tôi bỏ lại - những quần áo, tập vở, số sách, ghi chép, hình như có cả tập thơ chép tay, thơ của chị tôi và thơ của những tác giả mà chị tôi thích, thì tôi lại thấy lòng quặn lại, và nhớ hình ảnh chị tôi chiều hôm ấy.

Quyết định thay đổi từ ra đi thành ở lại của cha tôi diễn ra trong tích tắc, chỉ trong thời gian khoảng chừng 1 tiếng đồng hồ, và mẹ tôi cũng rất ngỡ ngàng nhưng không nói gì. Rồi liền sau đó là một cuộc sống mới với tất cả mọi giá trị hoàn toàn đảo lộn đã ập đến. Sau này cuộc sống khó khăn quá, thỉnh thoảng khi nhớ lại thì mẹ tôi lại trách cha tôi về cái quyết định chớp nhoáng vào lúc ấy, và tỏ ra không hiểu vì sao ông làm như thế. Cha tôi không bao giờ nói gì về việc này, nên tôi chẳng rõ lý do gì khiến cha tôi có cái quyết định đó, và ông có bao giờ cảm thấy hối tiếc hay không. Nhưng khi nói chuyện riêng với tôi thì mẹ tôi quả quyết cha tôi đã quyết định ở lại vì nghĩ đến ông nội tôi còn sống ở miền Bắc, hẳn là không muốn vĩnh viễn rời xa cha mình vì như thế là bất hiếu (bà nội tôi đã mất không lâu sau khi gia đình tôi di cư vào Nam, và cái tin bà mất cũng làm cho cha tôi vô cùng đau đớn). Và những trải nghiệm của bản thân tôi với sự ra đi của chị tôi đã giúp tôi hoàn toàn hiểu và thông cảm với quyết định lúc ấy của cha tôi.

Cuộc chia ly 21 năm của gia đình (lớn) của tôi sau năm 1975 đã có một kết cục tạm gọi là đẹp. Khoảng đầu năm 1976 chú tôi (chồng của cô út ở miền Bắc) đã đưa ông nội tôi vào Nam trên chuyến xe lửa Bắc Nam để thăm gia đình tôi lúc ấy đang cảm thấy rất lo lắng với cuộc sống mới. Cuộc gặp gỡ sau hơn 20 năm của hai cha con diễn ra đầy mừng tủi, ông nội tôi rất vui khi thấy đứa con trai duy nhất (vì người con trai đầu đã hy sinh) giờ đây đã có một bầy con đông đúc, với 5 người con trai (mà trước đó khi nói về ông tôi ở miền Bắc thì cha tôi lại tự hào nói với những người bà con trong họ: họ Vũ của ông nội tôi "con độc cháu đàn"), 3 cô con gái. Tất nhiên là còn thiếu hai người con đầu của cha mẹ tôi đã đi di tản mà lúc ấy vẫn còn chưa có tin tức.

Ông tôi rất vui khi nhìn thấy đám cháu chưa bao giờ biết mặt, bố tôi thì khỏi phải nói rồi, chỉ có mẹ tôi (và tôi, đứa con gái lớn lúc ấy vì chị cả tôi đã đi) là hơi vất vả vì ông tôi vào nên khách khứa liên miên, lại thêm phải lo cho ông ăn ở sinh hoạt. Rất lạ là thằng em út của tôi dù mới gặp ông lần đầu đã rất quyến luyến ông, lúc nào cũng lẩn quẩn bên ông như ông cháu đã ở với nhau từ lâu lắm. Cha tôi muốn đón ông vào SG sinh sống nhưng ông quyết định trở về Nam Định, bởi vì ông không quen ở thành phố nên cảm thấy rất xa lạ, nhớ ruộng đồng chòm xóm. Và điều quan trọng nhất là vì ông tôi sau này đã tái hôn với bà sau, có thêm cô con gái bằng tuổi đứa em út của tôi, và ông muốn trở về với bà và cô út (sau) vì biết cuộc sống ở SG không hợp với mọi người.

Cuộc hội ngộ năm 76 của gia đình tôi dù cảm động vẫn có những điều chưa trọn vẹn. Anh chị tôi vẫn còn "mất tích" chưa có tin tức gì (mãi mấy năm sau chị tôi mới gửi thư về, lại là một chuyện ly kỳ khác mà một lúc nào đấy tôi cũng sẽ phải kể lại), nên mỗi lần nhắc đến thì ai cũng đau lòng, chẳng biết mọi người sống chết ra sao. Cha tôi dường như có nỗi đau không thể chia sẻ với ai được, đặc biệt là với mẹ tôi, rằng ông đã phải buộc phải lựa chọn giữa cha mình (ông nội tôi) và tương lai cả gia đình và vợ con của chính mình, để cuối cùng cha tôi đã chọn ông nội tôi. Còn ông nội tôi thì dường như cũng không hài lòng lắm với việc cha tôi để cho 2 đứa con đầu đi di tản, nhưng ông cũng không bao giờ nói ra. Những cuộc trao đổi vẫn còn né tránh chuyện chính trị, ai cũng cố tránh không gợi ra về cuộc chiến lâu dài đẫm máu mà hai bên chĩa súng bắn vào nhau (nhà tôi thì không có cảnh này vì ông nội tôi chỉ có mỗi một mình cha tôi, nhưng nhiều bà con khác thì có), không nhắc đến sự sụp đổ của chính quyền SG, dù thỉnh thoảng vô tình vẫn để lộ ra quan điểm chính trị mà một bên nghe thì rất khó chịu nhưng phải nén lại.

Dù sao thì tình cảm gia đình cũng là nét chính của cuộc hội ngộ, và một tháng trời ông tôi ở SG quả là đáng giá cho cả hai phía, đặc biệt là vì lúc ấy gia đình tôi vẫn còn chút ít của cải đã tích lũy trước năm 75, chưa phải trải qua cảnh nuôi heo, nuôi gà vịt, làm miến dong ngay trong căn nhà 2 tầng ở mặt tiền đường lớn (đường CMT8) ở Quận Tân Bình, vốn được thiết kế theo kiểu nhà đô thị hiện đại chứ không phải để nuôi heo hay nuôi gà vịt (đây cũng là một chuyện dài mà tôi sẽ kể vào dịp khác). Và đáng giá hơn nữa là chuyến đi ấy của ông nội tôi vào thăm cha tôi là cuộc gặp mặt duy nhất giữa hai cha con sau 21 năm ròng, vì sau đó vài năm vào đầu thập niên 80, giữa lúc VN đang thiếu gạo, đói kém nhất (dù đang tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên CNXH) thì ông tôi đã mất, và cha con không bao giờ còn gặp mặt nhau nữa.

Nhưng ngay cả khi ông mất cha tôi cũng chẳng dám về Nam Định chịu tang (vì hồi ấy vẫn còn sợ địa phương ngoài ấy kỳ thị, trả thù "tội di cư vào Nam", mà điều này là có thật, vì có những người bà con xa tôi của tôi khi về Bắc đã bị lôi thôi với chính quyền địa phương vì cho rằng họ là CIA hoặc phản động về móc nối ...), chỉ có bác ruột tức chị của bố tôi là phụ nữ không bị nghi có liên can đến chính trị là dám về thôi. Khi về, bác tôi có nói rằng ông bà nội có để lại cho bố tôi một chiếc mâm đồng làm của gia bảo, hiện vẫn còn ở nhà cô út (cô ở lại miền Bắc với ông bà) nhưng bác không dám mang về (vì mọi hàng hóa mang theo người đều phải khai báo và có giấy tờ chứng minh lằng nhằng), khi nào bố tôi có dịp ra Bắc thăm họ hàng thì sẽ nhận. Nhưng cái mâm ấy tôi chưa bao giờ được thấy vì đến năm 91, bắt đầu mở cửa và thể chế bắt đầu có những nhận thức lại thì bố tôi mất vì ung thư phổi. Vì thế, vật "gia bảo" ấy không còn người nhận, hẳn là cô tôi đã giữ thay cho bố tôi luôn rồi, chẳng biết nó có còn được giữ hay đã bán đi trong những năm thiếu gạo ở cả hai miền.
Có một chi tiết rất cảm động mà tôi không thể không kể. Năm 1976 khi vào Nam, ông nội tôi chỉ có một món quà. Ông gói nó kỹ trong một chiếc khăn nhỏ và đưa cho bố tôi. Đó là chiếc huân chương chiến thắng hạng ba mà bác tôi (người đã hy sinh trong chiến tranh chống Pháp) được truy tặng vào năm 1958, cùng với 2 thứ giấy tờ kèm theo: Một tờ giấy chứng nhận truy tặng huân chương cho bác tôi, và một tờ giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ cấp cho ông tôi là cha của liệt sĩ. Mãi tận sau này, mỗi khi mở tủ đựng giấy tờ của cha tôi thì tôi lại thấy cái hộp giấy nhỏ màu đỏ thẫm đựng tấm huy chương ấy để riêng một chỗ trong tủ.

Ông tôi đã cất công đem vào Nam cho cha tôi những thứ ấy để cha tôi có thể khai vào lý lịch, tin rằng nó có thể giúp được cho cha tôi lúc ấy khỏi bị những kỳ thị hoặc trừng phạt nếu có vì đã can tội di cư vào Nam và theo chân đế quốc, làm việc trong hệ thống hành chính của "ngụy quyền", và cũng có thể giúp cho bọn tôi dễ dàng hơn trong khi đi học hoặc xin việc sau này. Có một điều lạ là mặc dù cha tôi vẫn nhắc đến việc này một cách cảm động và trân trọng, nhưng trong lý lịch của cha tôi và sau này là của anh em tôi thì chi tiết này chưa bao giờ được khai vào. Tôi không bao giờ hỏi, cũng chẳng bao giờ quan tâm, thậm chí trong lòng còn thầm ủng hộ là cha tôi đã không tận dụng cái "công trạng" của người khác ấy. Dù lúc ấy chỉ mới 16, 17 tuổi, không nói được thành lời nhưng tôi cũng cảm thấy việc dựa vào lý lịch, vào thành tích của người thân là thiếu tự trọng - mỗi người phải có trách nhiệm với chính những gì mình làm và với những lựa chọn về quan điểm của mình.
Mãi đến khi cha tôi mất vào năm 91 và tôi không còn có dịp nào để nghe cha tôi nói về những gì đã diễn ra trong lòng ông lúc ấy, tôi mới thấy hối tiếc là tại sao hồi ấy mình không đủ trưởng thành để dám hỏi ông và nghe ông tâm sự. Và tôi cũng có một chút tò mò, nếu như trong lý lịch của cha tôi và anh em tôi có khai tên ông bác liệt sĩ thì số phận của chúng tôi có thay đổi chút nào không nhỉ, và đổi thay ấy sẽ theo hướng tốt lên hay xấu đi?
Đã 60 năm rồi. Rất nhiều nhân chứng đã không còn, vật chứng cũng thất lạc không còn giữ được bao nhiêu. Cuộc sống đã trôi qua, ý nghĩa của hội nghị Geneva đối với VN và tình hình chính trị thế giới đã được phân tích đi, phân tích lại nhiều lần. Năm nay trên báo chí lề phải cũng có một bài phân tích khá dài của ông Vũ Khoan (à, lại họ Vũ của làng Vũ Đại nhà tôi!) về những bài học cần rút ra về hiệp định Geneva. Có một số điểm đã được nhìn nhận lại cho chính xác hơn, ví dụ như theo một bài viết nhân kỷ niệm 40 năm Geneva tức cách đây 20 năm mà tôi mới đọc được thì Geneva là thắng lợi vẻ vang của ta, thì nay Geneva chỉ còn là cuộc chơi của những nước lớn trên bàn cờ chính trị mà VN chỉ là một con tốt. Không sai, nhưng rõ ràng là vẫn còn rất nhiều góc khuất cần được bạch hóa phân tích kỹ hơn ở mọi khía cạnh.

Câu hỏi lớn nhất cho người VN hiện nay theo tôi là: Bản chất của cuộc chiến tranh VN, kéo dài từ thời chống Pháp đến tận năm 1975 và tốn không biết bao nhiêu xương máu của cả hai miền, đó là cuộc chiến gì thế, và nó có cần được tiến hành không? Giả sử nếu Đảng CSVN - với sự ủng hộ của quốc tế vô sản, đặc biệt là 2 đồng chí Liên Xô và TQ - không lãnh đạo cuộc chiến tranh "thần thánh" để đuổi Pháp và giành độc quyền lãnh đạo đất nước cho đến tận bây giờ, thì VN không thể có được độc lập và thống nhất ư?  Không phải thế. Vậy VN có độc lập sớm hơn các nước trong khu vực một chút nào chăng, khi mình phải chiến tranh triền miên để dành độc lập trong khi các nước ấy chẳng phải tốn chút xương máu nào để giành độc lập như VN? Cũng không. Rất tình cờ, hôm qua tôi vừa có một cuộc tranh luận nảy lửa đến độ đã tuyên bố cắt đứt tình bạn với một người mà cho đến giờ trong thâm tâm tôi vẫn xem là một người bạn quý - trừ sự khác biệt trong nhìn nhận về cuộc chiến tranh ấy. Lại thêm một sự chia cắt xé lòng về một câu chuyện đã quá cũ, đã tròn một hoa giáp 60 năm mà vẫn còn khả năng gây chia rẽ đối với người Việt.

Câu trả lời là gì, và tại sao, tại sao, tại sao cho đến tận bây giờ lòng người VN vẫn còn những hố sâu dường như không bao giờ vượt qua được? Tôi không có câu trả lời chung cho tất cả mọi người, và cũng không có câu trả lời chắc chắn cho riêng tôi. Tôi chỉ biết, việc quan trọng nhất hiện nay của VN là thống nhất lòng người, là cùng nhau xác định một con đường đi lên cho đất nước và cùng nhau quyết tâm thực hiện, xóa đi những hận thù, hờn oán của cuộc chiến oan nghiệt đó. Nhưng để làm được điều này chắc chắn là không dễ dàng, nếu sự thật vẫn còn bị bưng bít, nếu một trong hai bên hoặc cả hai đều từ chối nhìn vào và phân tích những sai lầm của phía mình và chân thành nhận lỗi - cả bên thắng lẫn bên thua, nhưng nhất là bên thắng - và nếu bên thắng vẫn cứ tiếp tục tự ngợi ca chính nghĩa của mình và mạt sát bên thua với những thông tin bị cắt xén cho đúng quan điểm của bên thắng cuộc, nếu hai bên chỉ chăm chăm moi móc cái xấu của nhau ra để so đọ xem ai thắng ai thua, thì chắc chắn cuộc trùng phùng của năm 1975 không thể nào là cuộc hội ngộ vẹn toàn. Có lẽ đó là bài học lớn nhất mà mọi người VN đều cần phải học.

Tự nhiên tôi nhớ đến lời hát da diết ấy của TCS: Việt Nam ơi, còn bao lâu những con người ngồi nhớ thương nhau? Chẳng lẽ 60 năm rồi sau ngày chia ly vĩ đại năm ấy, đến bây giờ chúng ta vẫn chưa có được câu trả lời hay sao?

Và cũng nhớ đến Phạm Duy với bài hát VN, VN mà nhạc sĩ đã từng giải thích: Tôi đặt bài hát là VN, VN vì chúng ta có 2 đến nước VN. Phải chăng bài hát ấy chứa trong nó câu trả lời mà PD đã từng mong muốn suốt bao năm: VN không đòi xương máu, VN kêu gọi thương nhau .... Phải thế không, người VN ơi?

Nguồn:
http://blogphuonganh.blogspot.com/2014/07/60-nam-geneva-va-cuoc-hoi-ngo-van-con.html